Hủy

Y học có bằng chứng - một trường phái Y học quan trọng trong điều trị ung thư

Thứ sáu, 11/01/2019
Thừa hưởng những điểm ưu việt của trường phái Y học thực chứng, phác đồ điều trị dựa trên Y học thực chứng của IBM Watson for Oncology đem đến cho các bác sĩ và bệnh nhân ung bướu những lợi ích đáng kể.

 

1. Y học dựa trên bằng chứng là gì?

Về định nghĩa của Y học dựa trên bằng chứng (Y học thực chứng), Giáo sư David Sackett, cha đẻ của trường phái Y học thực chứng, cho rằng: “Vận dụng một cách thận trọng, chính xác và rõ ràng tất cả các dữ liệu nghiên cứu thu được tốt nhất hiện có, kết hợp với kinh nghiệm và kiến thưc của thầy thuốc, cùng với tham khảo nguyện vọng và yêu cầu của người bệnh để đưa ra biện pháp điều trị hữu hiệu cho từng người bệnh cụ thể”.

Một cách ngắn gọn, y học thực chứng là một phương pháp thực hành y khoa dựa vào các dữ liệu y học một cách sáng suốt và có ý thức, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

 

Y học thực chứng là bệnh nhân cùng làm việc với bác sĩ, trang bị bằng các dữ liệu khoa học, để đi đến một quyết định tối ưu

 

Các dữ liệu y học ở đây là kết quả nghiên cứu y khoa đã được công bố trên các tập san y học chuyên môn. Sử dụng dữ liệu y học một cách “sáng suốt và có ý thức” có nghĩa là người thầy thuốc phải cân nhắc, đánh giá, phân loại các dữ liệu nghiên cứu y học, kết hợp cùng kinh nghiệm lâm sàng và thông tin từ bệnh nhân.

Tóm lại, cái “giáo lí” căn bản của y học thực chứng là bệnh nhân cùng làm việc với bác sĩ của họ, trang bị bằng các dữ liệu khoa học, để đi đến một quyết định, một sự lựa chọn tối ưu cho bệnh nhân. Bởi vì chỉ có bệnh nhân mới biết về họ chính xác hơn là bác sĩ biết về họ.

 

2. Điều trị ung thư dựa trên bằng chứng là như thế nào?

Như đã nói ở trên, một thay đổi đột phá mà trường phái Y học thực chứng trong giới y hóa nói chung và trong điều trị ung thư nói riêng chính là thay đổi mối quan hệ giữa bác sĩ và người bệnh.

Khi điều trị ung thư dựa trên Y học thực chứng, bác sĩ không nên nói với người bệnh rằng “Tôi đề nghị anh dùng thuốc/phác đồ điều trị này” hoặc những phát biểu mang tính khẳng định và áp đặt. Thay vào đó, bác sĩ nên nói ““Tôi thấy có bằng chứng cho thấy thuốc này có hiệu nghiệm trong X phần trăm trong những người mang bệnh như anh. Vậy anh thấy sao?”. Cuối cùng, người bệnh vẫn là người quyết định bởi vì các phương pháp ứng dụng và phác đồ điều trị phải lấy cá thể người bệnh làm trung tâm nghiên cứu.

 

Bác sĩ lúc này chỉ đóng vai trò là người giới thiệu những dữ liệu học và có trách nhiệm trình bày dữ liệu đó trong bối cảnh của người bệnh

 

Bác sĩ lúc này chỉ đóng vai trò là người giới thiệu những dữ liệu học và có trách nhiệm trình bày dữ liệu đó trong bối cảnh của người bệnh. Bệnh nhân có cơ hội thay đổi vai trò, từ người bị động áp dụng các phương pháp chẩn đoán và điều trị của thầy thuốc sang người đóng vai trò chủ động hợp tác với thầy thuốc trong sự lựa chọc các phương pháp trị liệu. Bệnh nhân có quyền quyết định số phận của chính mình, nhất là trong một tình huống có nhiều giải pháp mà người đưa ra giải pháp cũng không thể cho một đáp số tối ưu.

Ở một mặt khác, Y học thực chứng đòi hỏi bác sĩ phải có khả năng đánh giá chứng cứ khoa học, đồng thời biết định hướng giữa lợi và hại trước khi đưa ra gợi ý cho người bệnh.

Trong thực tế và ở mức độ vĩ mô, phong trào y học thực chứng ủy quyền cho dữ liệu khoa học, và do đó ủy quyền cho hai phía, bệnh nhân và bác sĩ. Hai bên cùng có lợi.

Hiện nay, Y học thực chứng cũng được ứng dụng trong Hệ thống trí tuệ nhân tạo IBM Watson for Oncology nhằm đưa ra các phác đồ điều trị gợi ý cho bác sĩ và người bệnh ung thư. Thừa hưởng những lợi ích của trường phái Y học thực chứng, phác đồ điều trị dựa trên Y học thực chứng của IBM Watson for Oncology đem đến cho các bác sĩ và bệnh nhân ung bướu những lợi ích đáng kể.


Five9 IBM Watson Health